Hiển thị các bài đăng có nhãn - Xu Hướng Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn - Xu Hướng Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016

Đi tìm thương hiệu đạt chuẩn quốc gia

Trong khi đó, Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp khống chế mức trần chi phí cho quảng cáo, tiếp thị... được khấu trừ khi tính thuế chỉ ở mức 15% trên tổng chi phí.


Việt Nam có nhiều sản phẩm xuất khẩu chủ lực nhưng phần lớn đều chưa có thương hiệu hoặc mang lại hình ảnh tích cực cho quốc gia.Đã rất nhiều người đặt câu hỏi "Vì sao Việt Nam chưa có thương hiệu tầm cỡ khu vực và thế giới?". Ở góc nhìn của mình, chuyên gia thương hiệu Stephen Kreppel, Công ty Tư vấn National Consultancy, cho rằng "Quảng bá thương hiệu đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo dựng dấu ấn Việt Nam trên thị trường thế giới nhưng các doanh nghiệp (DN) chưa có sự đầu tư thích đáng cho việc này".Đi tìm thương hiệu quốc gia
Trong hội thảo "Đầu tư phát triển thương hiệu và chi phí quảng cáo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức, chuyên gia này khẳng định, hội nhập ngày càng sâu vào thị trường quốc tế đòi hỏi DN Việt Nam phải thay đổi tư duy về thương hiệu, phải có tầm nhìn dài hạn và chiến lược marketing tổng thể.
"Muốn xuất khẩu thu được lợi nhuận cao, DN Việt Nam cần nâng cao năng lực quản trị, công nghệ, cần chú trọng đầu tư cho thương hiệu để tạo khả năng sinh lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh...", ông Stephen Kreppel khuyến cáo.
Đi sâu vào phân tích thực trạng tại Việt Nam, ông Stephen Kreppel cho rằng, Việt Nam vẫn có những mặt hàng xuất khẩu chủ lực như gạo, cà phê nhưng vấn đề DN mới chỉ quan tâm giá bán chứ chưa phải lợi nhuận. Thêm nữa, hàng loạt sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vẫn chưa hề có thương hiệu hay mang lại hình ảnh tích cực cho đất nước.
Do đó, lợi nhuận sinh ra từ các sản phẩm của Việt Nam thuộc về các công ty nước ngoài. Cũng do chất lượng sản phẩm của Việt Nam chưa cao, dẫn đến chuỗi cung ứng chưa tốt.
Vì vậy, Việt Nam không có những mặt hàng sinh lời cao và kéo theo việc nền kinh tế nói chung phát triển chậm lại. Ngoài ra, Việt Nam còn đối mặt với thách thức rơi vào bẫy thu nhập trung bình, không có khả năng chi trả cho những mặt hàng chất lượng cao, có giá cao hơn.
Theo VCCI, hiện nay, lượng đăng ký và sở hữu trí tuệ ở lĩnh vực đăng ký nhãn hiệu, thương hiệu, sáng chế, bảo hộ kiểu dáng công nghiệp... của các DN ở trong nước tăng khá nhanh, đặc biệt là khi nước ta hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.

Tuy nhiên hiện nay ở nước ngoài mới chỉ có khoảng 1.000 thương hiệu của Việt Nam được đăng ký. Con số này là rất nhỏ nếu nhìn vào tổng số hàng trăm ngàn DN Việt Nam đang hoạt động.
Thương hiệu và sở hữu trí tuệ đang ngày càng chi phối giá trị của mỗi sản phẩm toàn cầu. Chỉ riêng giá trị thương hiệu ngày nay đã chiếm 1/3 giá trị nền kinh tế toàn cầu.
Ông Stephen khẳng định việc xây dựng thương hiệu quốc gia sẽ giúp danh tiếng thương mại của Việt Nam được tốt hơn, phát triển kinh tế nhanh hơn, tăng lượng khách du lịch và vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. "Việt Nam như là một tập đoàn quốc tế lớn.
Vì vậy, Chính phủ và các DN Việt Nam hãy xây dựng "Thương hiệu Tập đoàn Việt Nam" để mọi người có nhiều lợi ích hơn", ông nhận định. Chính phủ là thể chế duy nhất đưa ra được tầm nhìn dài hạn và giải pháp trong giai đoạn đầu, không một nhà sản xuất đơn lẻ nào có khả năng xây dựng thương hiệu hoặc thâm nhập thị trường xuất khẩu một cách độc lập.
Ngoài vai trò đầu tàu của Chính phủ, mỗi ngành đều có yếu tố sức mạnh cạnh tranh tiềm ẩn với một vài DN tham vọng đóng vai trò đầu kéo các DN khác. Bên cạnh đó, một yếu tố kỹ thuật cũng cần được lưu ý.
Thành công của các tập đoàn kinh tế đa quốc gia cho thấy, kinh phí đầu tư cho xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm, dịch vụ... của họ rất cao, có khi lên đến 30% doanh thu.
Trong khi đó, Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp khống chế mức trần chi phí cho quảng cáo, tiếp thị... được khấu trừ khi tính thuế chỉ ở mức 15% trên tổng chi phí.
Trên thế giới chỉ còn vài nước, trong đó có Việt Nam áp trần chi phí quảng cáo tiếp thị khi tính thuế thu nhập DN. Do đó, DN càng không có điều kiện để đầu tư cho các hoạt động quảng cáo, quảng bá thương hiệu.

Lợi thế của hàng nhãn riêng

Nhưng thú vị hơn nữa là tỷ lệ người tiêu dùng lên danh mục các sản phẩm hàng nhãn riêng mà họ thích và sẽ mua thêm lần sau (ngay cả khi giá của nó đắt hơn giá của các sản phẩm thương hiệu) đang ngày càng tăng lên.


Theo báo cáo vừa được Nielsen công bố, hầu hết người tiêu dùng trong khu vực đã thay đổi quan điểm về hàng nhãn riêng và đây như một giải pháp hữu hiệu đối với các nhãn hiệu có tên tuổi.Theo báo cáo về hàng nhãn riêng toàn cầu của Nielsen, có đến 84% người tiêu dùng Việt Nam cho rằng nhận thức của họ về các thương hiệu riêng đã được cải thiện theo thời gian và đây là mức cao nhất trên toàn cầu.
Tỷ lệ này đạt 83% tại Thái Lan (thứ tư cao nhất trên toàn cầu), 77% tại Philippines, 70% tại Malaysia, 66% tại Indonesia và 64% tại Singapore, so với tỷ lệ 71% của người tiêu dùng toàn cầu.
Báo cáo của Nielsen cũng cho thấy, niềm tin tiêu dùng các nhãn hàng riêng đặc biệt cao ở Philippines, nơi ba phần tư người tiêu dùng (75%) xem các nhãn hàng riêng là một lựa chọn thay thế tốt cho các thương hiệu nổi tiếng (tăng 24 điểm so với năm 2010); 69% cho rằng chất lượng của các sản phẩm nhãn hiệu riêng cũng ngang với các sản phẩm của thương hiệu nổi tiếng (tăng 28 điểm), và hơn phân nửa (54%) tin rằng một vài sản phẩm nhãn hiệu riêng có thể tốt hoặc tốt hơn các sản phẩm của thương hiệu nổi tiếng.
Niềm tin tiêu dùng này cũng khá cao tại Thái lan và Malaysia với hơn 3 trong 5 người tiêu dùng (lần lượt là 65% và 62%) tin rằng các nhãn hiệu riêng là những lựa chọn thay thế tốt cho các sản phẩm thương hiệu nổi tiếng (tăng tuần tự 22 điểm và 16 điểm).
Hơn phân nửa người Thái Lan và Malaysia (55% và 52%) cho rằng, chất lượng của các sản phẩm hàng nhãn riêng có thể so sánh với các sản phẩm thương hiệu nổi tiếng (tăng 40 điểm và 29 điểm).
Trong khi đó, 61% người tiêu dùng Thái Lan và Malaysia tin rằng một vài sản phẩm thuộc hàng nhãn riêng là tốt hoặc tốt hơn sản phẩm của các thương hiệu nổi tiếng.
Tuy nhiên, do thị phần của các hàng nhãn riêng trong khu vực vẫn còn thấp nên sự cải thiện niềm tin tiêu dùng đối với các sản phẩm này vẫn chưa tác động đến doanh số của các sản phẩm với nhãn hiệu riêng.
Trong khi 2/3 người mua sắm Singapore (66%) và 28% người mua sắm Thái Lan là những người mua sản phẩm hàng nhãn riêng thường xuyên nhưng các sản phẩm hàng nhãn riêng chỉ chiếm chưa đến 10% trong tổng giá trị mua sắm tại cả 2 thị trường này.
Thị phần tổng thể của hàng nhãn riêng trong khu vực vẫn rất thấp, tỉ lệ này tại Singapore là 6,3% và tại Thái Lan chỉ là 2,9%.
Theo ông Pete Gale, Trưởng Dịch vụ Bán lẻ của Nielsen tại châu Á - Thái Bình Dương, với tỷ lệ ngày càng tăng của mô hình cửa hàng bán lẻ hiện đại đang nổi lên khắp Đông Nam Á, nhận thức và niềm tin tiêu dùng đối với hàng nhãn riêng đang tăng dần lên.
Tuy nhiên, việc nâng cao nhận thức này vẫn chưa thể mang đến những thay đổi đáng kể trong doanh thu, và thị phần của các nhãn hàng riêng trong khu vực chỉ tăng nhẹ trong thập niên qua khi các hoạt động quảng cáo của thương hiệu nổi tiếng gia tăng.
Khi nói đến giá của sản phẩm hàng nhãn riêng, nhận thức xung quanh vấn đề giá của sản phẩm so với chất lượng không được khả quan trong khu vực Đông Nam Á so với tỷ lệ trung bình trên thế giới. Chỉ 46% người Indonesia tin rằng các sản phẩm hàng nhãn riêng có giá hợp lý, đây là tỷ lệ thấp nhất trong khu vực và thấp thứ sáu trên toàn cầu.
Có 55% người Việt Nam, 57% người Singapore, 58% người Malaysia, 59% người Thái Lan và 66% người Philippines tin các sản phẩm hàng nhãn riêng có giá hợp lý. Niềm tin tiêu dùng đối với sản phẩm hàng nhãn riêng ngày càng tăng cao và người tiêu dùng cũng sẵn sàng trả thêm tiền cho các sản phẩm hàng nhãn riêng mà họ thích.Ưu thế của hàng nhãn riêng
Philippines là nước đứng đầu trên toàn cầu, với gần ba phần tư (72%) người tiêu dùng cho biết sẵn sàng trả bằng hoặc cao hơn cho các sản phẩm hàng nhãn riêng mà họ thích, kế tiếp là 69% người Việt Nam (đứng hàng thứ 5 cao nhất trên toàn cầu) và 64% người Thái Lan (cao hàng thứ 9 toàn cầu).
Ông Gale cho biết: "Trong khi đa số người mua sắm Đông Nam Á cảm thấy các sản phẩm bán lẻ hàng nhãn riêng có giá tốt, một số sản phẩm có thể bắt kịp để so sánh với các sản phẩm hàng nhãn riêng tại các thị trường phát triển lâu hơn như Anh, Mỹ và Úc.
Nhưng thú vị hơn nữa là tỷ lệ người tiêu dùng lên danh mục các sản phẩm hàng nhãn riêng mà họ thích và sẽ mua thêm lần sau (ngay cả khi giá của nó đắt hơn giá của các sản phẩm thương hiệu) đang ngày càng tăng lên.
Điều này tạo cơ hội cho các nhà bán lẻ điều chỉnh hàng nhãn riêng để phục vụ cho thị hiếu địa phương nhằm tăng thêm số người dùng thử và xây dựng lòng trung thành theo thời gian".

Các DN chuẩn bị gì cho mùa mua sắm cuối năm?

• Thu thập thông tin khi khách hàng đổi thưởng. Có thể sử dụng phần mềm để tặng quà cho khách hàng qua di động, khuyến mãi coupon trên Facebook hay gửi thư mời họ nhận quà trong cửa tiệm. Khi họ xuất hiện, đừng quên kêu gọi đăng ký nhận email định kỳ, xin thêm email, số điện thoại của người thân bạn bè họ để tất cả cùng nhận thưởng. Bằng cách ấy, doanh nghiệp luôn có thêm thông tin quý giá về khách hàng để phục vụ họ tốt hơn.
DN chuẩn bị gì cho mùa mua sắm cuối năm?

Dường như không doanh nghiệp nào muốn bỏ lỡ mùa mua sắm cuối năm, vì đây là thời điểm người tiêu dùng chi tiêu mạnh tay nhất. Bắt đầu từ tháng 11 cho đến Tết Âm lịch, mọi nhà bán lẻ đều tung ra những chiến lược kinh doanh riêng với hy vọng đạt được doanh thu cao nhất.
Một số công ty nhỏ thậm chí còn bắt đầu sớm hơn, với hy vọng tận dụng triệt để sức mua của thị trường và đạt được mức lợi nhuận tối đa. Vậy nếu chưa hoặc đang lên kế hoạch cho mùa mua sắm cuối năm, doanh nghiệp cần đặt ra những câu hỏi sau cho chương trình tiếp thị của mình:
1. Doanh nghiệp đã có những món hàng hấp dẫn cho dịp lễ hội? 

Cách tốt nhất để nổi bật giữa đám đông suốt giai đoạn này chính là thực hiện hẳn một chương trình khuyến mãi đặc biệt cho mùa cuối năm. Bất kể gọi đó là 12 tuần lễ hội hay ba tháng khuyến mãi, hãy đảm bảo rằng khách hàng của doanh nghiệp luôn nhận được nhiều món hàng khuyến mãi, giảm giá theo chu kỳ mỗi tuần, mỗi tháng hoặc thậm chí mỗi ngày để tạo cảm giác hào hứng, mới lạ hơn là áp dụng một chương trình tương tự trong suốt giai đoạn mua sắm này. C
hiết khấu, quà tặng đặc biệt hoặc khuyến mãi nằm trong số những chiến lược hay nhất để thu hút khách hàng mới vào cửa hiệu của doanh nghiệp nhưng cách thức áp dụng có thể thay đổi đôi chút so với những năm trước. Bên cạnh việc phát quảng cáo trên tivi, báo chí hoặc tờ rơi, thư trực tiếp đến nhà như thường lệ, đừng bỏ qua email, tin nhắn điện thoại và những mẫu quảng cáo khuyến mãi mang tính địa phương.
Nếu khách hàng của doanh nghiệp sử dụng Facebook, đừng ngại áp dụng chương trình tặng coupon trên Facebook vốn không chỉ cho phép doanh nghiệp tăng danh sách email khách hàng mà còn thu hút thêm khách hàng mới vì khả năng chia sẻ trên các phương tiện truyền thông là vô cùng lớn. Cũng đừng quên kêu gọi khách hàng chia sẻ những thông tin khuyến mãi ấy với người thân, bạn bè, để tất cả cùng nhận được phần quà từ doanh nghiệp.
2. Doanh nghiệp có tập trung vào các chương trình khuyến mãi?
Khi gửi đến khách hàng một thông tin khuyến mãi nào đấy, hẳn nhiên doanh nghiệp không muốn họ bị phân tâm hoặc rối trí. Đó là lý do vì sao mọi tài liệu tiếp thị của doanh nghiệp gửi đi phải có tính nhất quán và tập trung.
Chẳng hạn, email gửi đi chỉ đề cập duy nhất đến lời giới thiệu chương trình khuyến mãi và website phải được tái thiết kế để trình bày duy nhất những sản phẩm khuyến mãi khách hàng muốn nhìn thấy nhất sau khi đọc email và truy cập vào website mua sắm.
Doanh nghiệp cũng có thể nghĩ đến việc tận dụng các trang truyền thông xã hội để nhắc khách hàng và thu hút mọi người truy cập website của mình.
3. Doanh nghiệp đã cập nhật thông tin trên mọi kênh truyền thông về chương trình khuyến mãi?
Một khi đã lên kế hoạch sẵn sàng cho chương trình mùa lễ hội cuối năm, hãy đảm bảo rằng mọi kênh truyền thông khác đều phải đồng bộ được cập nhật về chương trình ấy.
Cẩn thận kiểm tra mọi góc độ của website doanh nghiệp trên internet và cập nhật đầy đủ. Thành lập một miền đáp (landing page) với nội dung đặc biệt phục vụ cho lễ tết cũng là một ý tưởng hay. Luôn rà soát từng thông điệp email gửi đi, từng cập nhật trên mạng xã hội, website để mang một chút không khí lễ hội vào đấy.
4. Doanh nghiệp giúp khách hàng kết nối ra sao?
Với một chiến lược khuyến mãi cuối năm rầm rộ, doanh nghiệp đang ở vị trí tốt để chiêu dụ khách hàng mới và mời gọi khách hàng cũ vào trong cửa hiệu.Nhưng đừng quên lập kế hoạch giữ liên lạc với khách hàng ngay sau đó. Việc làm này cho phép doanh nghiệp đưa khách hàng trở lại cửa hiệu trong suốt mùa lễ hội và cả sau khi mùa lễ hội kết thúc, không ngừng xây dựng mối quan hệ với khách hàng trong suốt năm mới. Nên:
• Thu thập thông tin khi khách hàng đổi thưởng. Có thể sử dụng phần mềm để tặng quà cho khách hàng qua di động, khuyến mãi coupon trên Facebook hay gửi thư mời họ nhận quà trong cửa tiệm. Khi họ xuất hiện, đừng quên kêu gọi đăng ký nhận email định kỳ, xin thêm email, số điện thoại của người thân bạn bè họ để tất cả cùng nhận thưởng. Bằng cách ấy, doanh nghiệp luôn có thêm thông tin quý giá về khách hàng để phục vụ họ tốt hơn.
• Thu thập địa chỉ email trong cửa hiệu. Đặt phiếu đăng ký nhận thưởng qua email trong cửa hiệu để bất kỳ ai tham quan đều được khuyến khích trở thành khách hàng mới và đăng ký nhận thông tin hấp dẫn về mùa mua sắm cuối năm này.

3 lý do khiến Big Data quan trọng đối với doanh nghiệp

 Thậm chí, sự tăng trưởng quá nóng của Big Data có thể buộc các công ty thay đổi chiến lược, hành vi và giải pháp sản phẩm hiện tại của mình để kịp thời thich ứng với công nghệ mới.
3 lý do khiến Big Data quan trọng với doanh nghiệp
Dữ liệu ở mọi nơi quanh ta và trực tiếp ảnh hướng tới công việc kinh doanh của doanh nghiệp. Thậm chí, sự tăng trưởng quá nóng của Big Data có thể buộc các công ty thay đổi chiến lược, hành vi và giải pháp sản phẩm hiện tại của mình để kịp thời thich ứng với công nghệ mới.
Tại Hội thảo tương tác "Big Data: Từ tí hon đến những người khổng lồ trong kinh doanh" do Báo Doanh Nhân Sài Gòn tổ chức hôm 30/10, ông Đinh Lê Đạt - Chuyên gia Big Data Tập đoàn FPT đã chia sẻ 3 lý do khiến Big Data ngày càng trở nên quan trọng đối với doanh nghiệp: 

Nhìn chiến dịch marketing tuyệt vời của Diet Coke

Ý tưởng của Diet Coke đã chiến thắng, thiết kế trên cả tuyệt vời, đứng top của top – kể cả khi nó không tạo ra được độ lan tỏa như các chiến dịch trước đó.


Coca-Cola đã "cá nhân hóa" để trở nên khác biệt và ghi dấu ấn đậm nét khi tung ra chiến dịch đầy sáng tạo với 250 nhãn chai có tên phổ biến của giới trẻ.
Nay thì Diet Coke in hẳn ra 2 triệu mẫu thiết kế chai riêng biệt cho từng cá nhân và thế là thành công mỹ mãn.
Coca-Coca Israel đã thực hiện chiến dịch này với sự hỗ trợ từ Gefen Team, Q Digital và HP Indigo.
Trong đó, công nghệ in Indigo đã giúp Coke giải quyết ổn thỏa những thách thức của chiến dịch "Share a Coke" khi mà chiến dịch lần đầu tiên được tung ra tại Úc vào năm 2011. Diet Coke đã áp dụng một kỹ thuật đặc biệt cùng công nghệ thiết kế độc đáo phối trộn màu vô cùng bắt mắt để tạo ra hàng triệu thiết kế được sản xuất ra một cách tự động nhưng vẫn đảm bảo được tính duy nhất, sáng tạo, độc đáo.
Các sản phẩm này nhắn nhủ rằng "Những người yêu thích Diet Coke ơi ! Bạn chính là những người vô cùng đặc biệt vì những chai Coke này làm ra chỉ để dành riêng cho bạn" Alon Zamir, vice president marketing của Coca-Cola Israel cho biết.
Công nghệ in Indigo đã giúp Coke giải quyết ổn thỏa chiến dịch Share a Coke ở Úc.
Nét độc đáo này còn được phát huy tối đa qua cách triển khai các chiến dịch quảng cáo với vô vàn hàng trăm biển quảng cáo thiết kế không trùng lặp, đẹp mắt không cái nào giống cái nào cũng như các mẹo kinh doanh chớp thời cơ như : áo thun, túi xách và hàng hóa khác có in hình thiết kế chai vô cùng vui nhộn, đẹp mắt, trẻ trung, mang đậm nét cá tính của riêng bạn.
Tinh túy của chiến dịch "Share a Coke" là làm cho mọi người cảm thấy rằng mình thật sự là duy nhất, khác biệt vì cái tên của bạn thực sự không phải là duy nhất đối với mọi người. Và một điều chắc chắn nữa là là tính cá nhân hóa của 250 cái tên không thể nào so bì nổi với tính cá nhân hóa của 2 triệu chai Coke.
Những chai Coke này chỉ dành riêng cho bạn.
Ý tưởng của Diet Coke đã chiến thắng, thiết kế trên cả tuyệt vời, đứng top của top – kể cả khi nó không tạo ra được độ lan tỏa như các chiến dịch trước đó.
Theo dõi video sau đây và bạn sẽ hiểu rõ hơn là tại sao Diet Coke lại chiến thắng thuyết phục như vậy!

Sai lầm và lời khuyên từ Google

Sau đó, hãy thử nghiệm với những ý tưởng mới, thay đổi nội dung quảng cáo hoặc thêm từ khóa mới. Nếu nó không chạy tốt, hãy thay đổi và thử lại lần nữa. Đừng nản lòng!


Để chiến dịch AdWords mang lại hiệu quả ngay từ đầu, nhà quảng cáo cần tránh một số sai lầm phổ biến.
Dưới đây là danh sách những sai lầm quan trọng mà các nhà quảng cáo mới thường gặp phải và cách ngăn ngừa.
1. Không xây dựng một chiến dịch với chỉ một quảng cáo và cả đống từ khóa
Hãy tổ chức các chiến dịch theo chủ đề, đề tài, dòng sản phẩm hay vị trí địa lý. Đừng ngại sắp xếp các từ khóa giống nhau lại với nhau để có thể tạo ra các quảng cáo tập trung vào mỗi nhóm.
Điều này sẽ cải thiện hiệu quả khi nhắm đến một đối tượng cụ thể và mức độ liên quan của quảng cáo. Hoặc hãy sử dụng cấu trúc tương tự cho các chiến dịch như cấu trúc mà bạn thực hiện cho trang web của mình. Nếu trang web đã được nhóm thành từng danh mục rồi thì công việc của bạn gần như đã hoàn tất.
Ví dụ, nếu doanh nghiệp bán các sản phẩm dành cho vật nuôi, nên có các chiến dịch riêng cho từng loại, chẳng hạn như cho mèo, chó, chim và cá. Hoặc nếu bạn bán các sản phẩm chăm sóc sắc đẹp, hãy xây dựng thành từng nhóm sản phẩm khác nhau, chẳng hạn như kem dưỡng da, nước hoa và các sản phẩm cho tóc.
2. Không đặt tên doanh nghiệp trong tiêu đề
Nhiều doanh nghiệp nhỏ cứ nhất định phải đặt tên công ty của họ vào tiêu đề, nhưng đây thường không phải là một ý hay. Nếu một người dùng đang tìm kiếm trực tuyến, họ có thể sẽ không biết bạn là ai, vì vậy hãy sử dụng số lượng chữ, vốn đã bị hạn chế, để tập trung vào lợi ích chính của sản phẩm/dịch vụ mà bạn cung cấp, các chương trình khuyến mãi đặc biệt, giá thấp, và các lợi ích khác mà sản phẩm mang lại.
3. Đừng hứa nếu không làm được
Nguồn gốc số một cho sự không hài lòng của người tiêu dùng xuất phát từ những kỳ vọng không được đáp ứng khi người dùng ghé thăm trang web của bạn. Hãy trung thành với mức giá hay những hứa hẹn mà bạn đưa ra trong mẫu quảng cáo của mình.

Người dùng internet tiêu biểu sẽ nhanh chóng quyết định họ có nên ở lại hay chuyển sang một trang web khác, vì vậy đừng để họ phải đoán.Ngoài ra, để tăng khả năng bán hoặc chuyển đổi, hãy chắc chắn rằng đường dẫn URL của quảng cáo sẽ dẫn dắt người dùng đến một trang cụ thể trong trang web của bạn, nơi hiển thị rõ ràng các thông tin hoặc những sản phẩm mà bạn đã đề cập trong quảng cáo của mình.
Ví dụ, nếu quảng cáo của bạn tập trung quảng bá cho các loại bong bóng cho ngày sinh nhật, thì đừng dẫn dắt họ đến trang hiển thị tất cả các thể loại bong bóng hoặc trang trình bày về các loại bóng bay dành cho các kỳ lễ, kỷ niệm nói chung trong website của mình.
4. Không ngừng kiểm tra dữ liệu hoặc điều chỉnh chiến dịch nếu cần
Không giống như quảng cáo ngoại tuyến, lợi ích quan trọng của quảng cáo trên internet là bạn có được các kết quả rõ ràng, nhanh chóng. Nếu bạn "thiết lập và quên đi" chiến dịch của mình, có nghĩa là bạn đang bỏ lỡ những thông tin phản hồi giá trị về quảng cáo của mình.
Bạn không muốn bỏ qua bất cứ một khách hàng nào đã bước vào cửa hàng thực của mình - và bạn cũng cần xem quảng cáo là một nguồn kinh doanh mở rộng trên môi trường trực tuyến.
Hãy thường xuyên theo dõi sát sao những thống kê tài khoản, xem xét các báo cáo dữ liệu, các bản ghi web, và những kết quả đo lường. Sử dụng phần mềm theo dõi chuyển đổi để xác định những từ khóa nào được chọn nhiều nhất và những cú nhấp chuột nào dẫn đến hành động mua hàng.
Sau đó, hãy thử nghiệm với những ý tưởng mới, thay đổi nội dung quảng cáo hoặc thêm từ khóa mới. Nếu nó không chạy tốt, hãy thay đổi và thử lại lần nữa. Đừng nản lòng!
5. Đừng chi trả nhiều hơn khả năng
Cái lợi của quảng cáo tính phí trên mỗi lần nhấp chuột là bạn có thể đặt giá thầu từ khóa thấp hay cao theo ý muốn và túi tiền của mình. Để quảng cáo hiệu quả, bạn phải đánh giá được những quảng cáo và từ khóa nào đang mang lại kết quả.

Chiến lược để tiếp thị hiệu quả trên MXH

Không giống với các thế hệ trước, có lẽ do phát triển cùng với thời đại internet, nên khách hàng thế hệ Y không quan tâm nhiều đến tính riêng tư và sẵn sàng chia sẻ thông tin cá nhân để đổi lấy các chương trình khuyến mãi hay các ưu đãi hấp dẫn từ doanh nghiệp. 

Khách hàng thế hệ Y (còn gọi là Millennials, tức là những khách hàng sinh từ năm 1980 đến 2000) ở nhiều thị trường trên thế giới đang nổi lên là một đối tượng quan trọng của các nhà tiếp thị vì họ ngày càng có sức tiêu thụ và ảnh hưởng lớn hơn đối với thị trường.Chiến lược tiếp thị hiệu quả trên MXH
Chẳng hạn, ở Mỹ khách hàng Y có quy mô 79 triệu người với sức mua 170 tỉ USD/năm. Cũng như các thế hệ đi trước, thế hệ Y có những đặc điểm riêng, đòi hỏi các nhà làm tiếp thị phải có những chiến lược và chiến thuật tiếp thị phù hợp, nhất là trong giai đoạn bùng nổ của internet và truyền thông xã hội.
Dave Hawley, Phó chủ tịch phụ trách tiếp thị của SocialChorus, một công ty cung cấp các giải pháp tiếp thị vận động (advocate marketing) đưa ra những lời khuyên sau đây giúp các doanh nghiệp tiếp thị hiệu quả khách hàng Y.

1. Điều chỉnh ngân sách tiếp thị trực tuyến
Nhiều nhà tiếp thị cho rằng nên đầu tư nhiều tiền cho quảng cáo và tiếp thị trực tuyến vì khách hàng thế hệ Y thường xuyên lên mạng internet. Tuy nhiên, một cuộc khảo sát do SocialChorus thực hiện năm 2013 cho thấy chỉ có 6% khách hàng thế hệ Y tin tưởng vào quảng cáo trực tuyến truyền thống.

Trên thực tế, khách hàng thế hệ Y có khuynh hướng không quan tâm đến quảng cáo trực tuyến, một số thậm chí còn có biểu hiện “không thèm để ý” đến hình thức quảng cáo này. Vì vậy, Hawley khuyên các doanh nghiệp nên chuyển bớt ngân sách dành cho quảng cáo trực tuyến truyền thống sang các hình thức quảng cáo khác.
2. Tìm hiểu và khai thác khuynh hướng chia sẻ thông tin trên mạng xã hội của khách hàng
Một điểm khác biệt giữa khách hàng thế hệ Y và khách hàng thuộc các thế hệ trước là khách hàng thế hệ Y rất thích chia sẻ mọi thứ với bạn bè theo thời gian thực. Họ trưởng thành cùng với sự bùng nổ của truyền thông xã hội và muốn được cập nhật thông tin tức thời cùng với bạn bè, đồng nghiệp.

Hawley khuyên các nhãn hiệu nên khai thác thói quen này của khách hàng thế hệ Y bằng cách tạo cho họ những trải nghiệm tích cực để chia sẻ.

Một mẩu tin tốt về doanh nghiệp trên Facebook hay Twitter sẽ tạo ra sự hứng thú cho các thành viên của các mạng này và khiến họ muốn khuyến khích bạn bè dùng thử sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể tạo ra những nội dung có tính giải trí cao để kích thích khách hàng thế hệ Y chia sẻ với cộng đồng của họ.

3. Khai thác nội dung do người dùng tạo ra và khuyến khích khách hàng nhận xét về sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp
Theo khảo sát của SocialChorus, có đến 91% khách hàng thế hệ Y cho biết họ tin tưởng vào các khuyến nghị mua sản phẩm do bạn bè đưa ra. Vì vậy, doanh nghiệp nên khuyến khích kênh khách hàng giới thiệu cho khách hàng này, nhất là trên các mạng truyền thông xã hội.

Thực tế cho thấy, những doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng chia sẻ các trải nghiệm của họ và chủ động thu thập các nhận xét, phản hồi của khách hàng là những doanh nghiệp có thể biến khách hàng thành những sứ giảủng hộ tích cực cho nhãn hiệu của mình.

4. Hướng đến các hoạt động vì cộng đồng và xã hội
Mặc dù thỉnh thoảng bị chỉ trích trên các phương tiện đại chúng là những người có xu hướng chỉ nghĩ đến bản thân và lợi ích cá nhân, nhưng thực tế đa số khách hàng thế hệ Y có ý thức xã hội và cộng đồng rất cao, sẵn sàng tham gia các hoạt động từ thiện hay vì các mục đích cao đẹp.

Họ luôn muốn gắn kết với những doanh nghiệp và nhãn hiệu có cùng những giá trị này.Họ quan tâm đến các vấn đề môi trường và xã hội, muốn tìm các cơ hội thay đổi thế giới bằng cách tự mình hành động và hỗ trợ những người xung quanh cùng hành động.

5. Minh bạch trong hoạt động và truyền thông
Trong bối cảnh kinh tế cũng như chính trị tại nhiều thị trường trên thế giới vẫn còn nhiều bất ổn, khách hàng thế hệ Y đánh giá cao tính minh bạch trong các hoạt động và truyền thông của doanh nghiệp. Họ có khuynh hướng không tin tưởng những doanh nghiệp không đưa ra phản hồi nhanh cho khách hàng hay những công ty có những hoạt động bí mật.

Để giành được niềm tin của khách hàng thế hệ Y, doanh nghiệp nên gắn kết họ thông qua truyền thông xã hội và thường xuyên chia sẻ với họ các tin tức về doanh nghiệp.

6. Khai thác dữ liệu về khách hàng
Không giống với các thế hệ trước, có lẽ do phát triển cùng với thời đại internet, nên khách hàng thế hệ Y không quan tâm nhiều đến tính riêng tư và sẵn sàng chia sẻ thông tin cá nhân để đổi lấy các chương trình khuyến mãi hay các ưu đãi hấp dẫn từ doanh nghiệp.

Điều này mở ra một cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp thu thập, phân tích và ứng dụng các dữ liệu xã hội về khách hàng thế hệ Y, từ đó cải thiện trải nghiệm của họ và làm cho các chiến dịch tiếp thị thu được nhiều kết quả hơn.

Nguyên tắc tuyển dụng của tỷ phú Richard Branson

Ngoài ra, ông cũng thích cất nhắc nhân viên lên các vị trí nằm ngoài những gì họ mong đợi, và điều này đã mang lại nhiều kết quả tốt. Branson kể lại việc ông từng tạo cơ hội một nhân viên lao công tại một phòng thu âm trở thành giám đốc quản lý của phòng thu đó. Tương tự như vậy, một nhân viên tiếp tân tại văn phòng Virgin ở Canada đã trở thành người điều hành quỹ từ thiện của hãng tại nước này.3 nguyên tắc tuyển dụng của tỷ phú Richard Branson

Vì sao Richard Branson sẵn sàng đưa một người lao công hay nhân viên tiếp tân lên vị trí lãnh đạo?
Hãy hình dung câu chuyện kỳ lạ này: Tỷ phú người Anh Richard Branson có một cuộc phỏng vấn với một nhóm ứng cử viên tại nhà riêng của mình. Ông cho một ông lão tài xế taxi 85 tuổi đón nhóm người này tại sân bay. Sau khi bác tài dỡ hết hành lý xuống nhà, tất cả mọi người ngồi xuống ghế.

Lúc này, bác tài xế mới tháo bỏ mặt nạ của mình ra và mọi người lúc này không khỏi ngạc nhiên vì đó lại chính là Branson. Một số người khi đi taxi đã thể hiện thái độ thô lỗ do không nhận ra Branson. Có người thậm chí còn mỉa mai, châm chọc ông. Kết quả là không có lấy một ứng cử viên nào được chọn.

Branson thừa nhận đây là một ví dụ hơi cực đoan nhưng câu chuyện trên cho thấy ông là người coi trọng tính cách trong việc đưa ra quyết định tuyển dụng nhân viên.

Việc có khả năng đối xử và giao tiếp tốt với người khác là một trong những nguyên tắc khắt khe của Branson khi chọn người. Dưới đây là 2 nguyên tắc khác trong việc tuyển dụng nhân sự của vị tỷ phú này.

“Hãy chọn người không thích theo khuôn phép”

Branson luôn tìm kiếm những nhân vật khác người vì bản thân ông cũng là một người thường xuyên chấp nhận rủi ro. “Chúng tôi muốn những cá nhân dám đương đầu với rủi ro, họ phải là những người không sợ vấp ngã”. Theo Branson, người nào dám chấp nhận rủi ro sẽ làm được những điều mà người khác chưa bao giờ thực hiện được.

Việc chấp nhận rủi ro chắc chắn sẽ có lần dẫn tới thất bại, và Branson cũng thừa nhận rằng mình đã nếm trải qua điều này. Nhưng khi Branson nói về thất bại của mình, ông rất thẳng thắn và khiêm tốn. Điều này cho thấy khả năng vực dậy của Branson sau khi gặp thất bại, và đó là lý do tại sao ông trở người thành công toàn diện.

“Tôi sẽ làm mọi thứ trong khả năng của mình để tránh thất bại. Nhưng nếu thất bại đến thì chỉ cần đến sáng hôm sau, cảm giác đó đã loại bỏ khỏi tâm trí. Tôi đã cố gắng học hỏi từ những thất bại và tôi luôn sẵn sàng cho những dự án tiếp theo ngay lập tức.”

Branson luôn tìm kiếm tố chất “nổi loạn” nơi những nhân viên tiềm năng, và có một cách để thực hiện điều này là lựa chọn từ những nhân sự đang có sẵn. Bằng cách này, ngay từ đầu Branson có thể thấy khả năng chấp nhận rủi ro, qua đó nắm được điểm mạnh và yếu của mỗi cá nhân một cách dễ dàng.

“Hãy tìm kiếm người tài giỏi và họ sẽ đến với bạn”

Branson là một người lạc quan bẩm sinh. Ông luôn thể hiện sự lạc quan ở khắp mọi nơi và đây cũng là một yếu tố quan trọng mà Branson tìm kiếm khi tuyển chọn nhân sự.

Có lần, một nhân viên dưới quyền đã ăn cắp nhiều đĩa nhạc từ cửa hàng Virgin của Branson. Sau khi gặp mặt nói chuyện với nhân viên này, Branson nhận ra nhân viên này nổi loạn theo một cách thức tích cực, do đó ông đã quyết định không sa thải nhân viên này. Thật bất ngờ, người đó không chỉ chấm dứt hành vi ăn cắp mà còn trở thành một người đóng góp rất nhiều cho công ty về sau này.

Đồng thời, Branson luôn cân nhắc bố trí những nhân viên chưa đạt yêu cầu trong công việc sang một vị trí mới phù hợp hơn, thay vì chấm dứt hợp đồng với họ.

Ngoài ra, ông cũng thích cất nhắc nhân viên lên các vị trí nằm ngoài những gì họ mong đợi, và điều này đã mang lại nhiều kết quả tốt. Branson kể lại việc ông từng tạo cơ hội một nhân viên lao công tại một phòng thu âm trở thành giám đốc quản lý của phòng thu đó. Tương tự như vậy, một nhân viên tiếp tân tại văn phòng Virgin ở Canada đã trở thành người điều hành quỹ từ thiện của hãng tại nước này.

Branson đo sự lạc quan của một người bằng cách quan sát xem người đó thường đưa ra lời khen ngợi hay là phê phán, chỉ trích. Những nhân viên thường động viên người khác luôn mang lại kết quả tốt hơn nhiều so với những người thích phê bình, Branson nhận xét. Chính vì thế, Branson chỉ muốn có những nhân viên biết cách khen ngợi và động viên ở trong công ty của mình.
Bài học cần ghi nhớ
Theo Branson, có ba tố chất quan trọng mà một nhân viên tốt cần phải có:

1. Kỹ năng đối nhân xử thế: Phải biết quan tâm và đối xử tốt với người khác

2. Dám chấp nhận rủi ro: Không e sợ thất bại và luôn vươn lên để gặt hái thành công.

3. Lạc quan: Luôn tìm ra được điểm tốt ở người khác và tìm được đôi điều tích cực trong những tình cảnh khó khăn.

Branson không phải là một nhà tuyển dụng chuyên nghiệp, nhưng chắc chắn ông là một tài năng hiếm có trong giới kinh doanh. Những lời khuyên trên đây của ông có thể giúp cho bạn tìm ra những nhân tố thích hợp cho công ty hay tổ chức của mình, qua đó đưa ra những quyết định chính xác và phù hợp trong quá trình tuyển dụng.

Triết lý khi kinh doanh 1 chữ của G-Shock

“Chúng tôi luôn hợp tác với những nhân vật nổi tiếng và thương hiệu đại diện cho tính bền bỉ, không chỉ về thể chất mà cả về tinh thần”, ông Teppei Takahashi – trợ lý giám đốc mảng đồng hồ của Casio cho biết.Triết lý kinh doanh 1 chữ của G-Shock


Trải qua 3 thập kỷ kể từ khi chiếc đồng hồ G-Shock được bán ra, thương hiệu này vẫn vô cùng phổ biến, thậm chí phổ biến hơn cả trước đây nhờ tuân thủ theo một triết lý kinh doanh xuyên suốt.
Được tạo ra bởi gã khổng lồ hàng tiêu dùng Nhật Bản là Casio, chiến lược của G-Shock tập trung vào chỉ 1 chữ "bền".
Mẫu đồng hồ đầu tiên được ra mắt vào năm 1983 có tên DW-5000 được định vị như một sản phẩm "nồi đồng cối đá", được chứng thực bởi hàng loạt bài kiểm tra chất lượng trước khi đến tay người tiêu dùng, bao gồm cả việc thả chiếc đồng hồ rơi từ trên trực thăng xuống.
Kể từ đó, những chiếc đồng hồ G-Shock dù được cải tiến với những công nghệ mới nhất như pin năng lượng mặt trời hay công nghệ bluetooth, nhưng nhà sản xuất vẫn tập trung vào khả năng chống sốc và độ bền của sản phẩm.
Những khách hàng đời đầu của Casio thường là người dân ngoại tỉnh, nhưng nhờ bền lại vẫn thời trang và nhiều chức năng cải tiến, chiếc đồng hồ này thu hút được cả những khách hàng thành thị. Những năm 90, chiếc đồng hồ G-Shock đặc biệt được giới rapper và nghệ sĩ vẽ graffiti yêu thích.
G-Shock hợp tác với nhiều nhân vật nổi tiếng để sản xuất các phiên bản đồng hồ mang tên họ như: ngôi sao hip hop huyền thoại Eminem, Wu Tang Clan, tay đua Nigel Sylvester của BMX, vận động viên trượt băng chuyên nghiệp Todd Jordan,... đội không quân Hoàng gia của Vương quốc Anh (U.K.'s Royal Air Force) và nghệ sĩ Nhật Bản Takashi Murakami. Bước đi "khôn ngoan" này đã giúp G-Shock nhanh chóng tiếp cận một lượng đông đảo người tiêu dùng trên toàn thế giới.
“Chúng tôi luôn hợp tác với những nhân vật nổi tiếng và thương hiệu đại diện cho tính bền bỉ, không chỉ về thể chất mà cả về tinh thần”, ông Teppei Takahashi – trợ lý giám đốc mảng đồng hồ của Casio cho biết.
Chính sự tập trung kiên định vào giá trị cốt lõi, không chạy theo xu hướng là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp G-Shock duy trì được danh tiếng dù đã trải qua nhiều thập kỷ.

Những bài học lãnh đạo từ tân Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ

Ít có điều gì nguy hiểm với nhà lãnh đạo hơn là sự chủ quan và tự mãn từ chính bản thân mình. Những chiến thắng dễ dàng ban đầu có thể làm bạn đánh mất sự cảnh giác và chuẩn bị, từ đó đặt cả tổ chức của bạn vào vòng rủi ro, và đó cũng thường chính là lúc đối thủ “trở lại lợi hại hơn xưa”.

Hôm 1/12 vừa qua, Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump cho biết ông đã quyết định sẽ bổ nhiệm cựu đại tướng James Mattis làm tân Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ. Được xem là “huyền thoại sống” của lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ, tướng Mattis từng có khá nhiều phát ngôn gây sốc như “thật là vui khi được bắn một số loại người”. Vì thế không có gì ngạc nhiên khi Mattis có biệt danh là “Chó điên” (Mad Dog), và ông Trump cũng gọi ông bằng biệt danh này.


Tuy nhiên, đằng sau những câu nói có vẻ thuần chất võ biền như vậy lại là một con người với học thức uyên sâu về các vấn đề lịch sử, văn hóa và triết lý lãnh đạo. Mattis có thể thoải mái trích dẫn kịch Shakespeare lẫn binh pháp Tôn Tử, và thường xuyên mang theo bên mình cuốn “Thiền định” (Meditations) của hoàng đế La Mã Marcus Aurelius. Vì vậy, một biệt danh khác được các binh sĩ của Mattis ưu ái dành tặng cho ông là “Thầy tu Chiến binh” (Warrior Monk).

Dưới đây là 7 bài học lãnh đạo đáng nhớ nhất từ James Mattis:

1.  Đọc, đọc nữa, đọc mãi

Khi được một đồng nghiệp hỏi về việc liệu các sĩ quan có nên đọc sách hay không, nhất là khi họ quá bận rộn không tìm ra được thời gian, Mattis đã gửi email trả lời: “Nếu quá bận rộn để đọc sách, bạn sẽ phải tự thu thập kinh nghiệm theo cách khó khăn nhất. Bằng cách đọc sách, bạn sẽ học được kinh nghiệm từ người khác, và đây là điều đặc biệt quan trọng khi mà hậu quả của việc thiếu kinh nghiệm thường là sinh mạng của những người trẻ tuổi”.

“Đọc sách không mang lại cho tôi tất cả các câu trả lời, nhưng nó mang lại ánh sáng để tiến vào con đường tối tăm phía trước… Khi đã thực sự hiểu được lịch sử thì bạn sẽ thấy những gì bạn đối mặt không có gì mới mẻ cả”.

Gia nhập quân ngũ với tấm bằng cử nhân sử học, Mattis chưa bao giờ chấm dứt niềm đam mê của mình đối với việc thu thập kiến thức mới. Thư viện cá nhân của ông từng có lúc có tới hơn 7.000 đầu sách, tới nỗi về sau này ông phải đem tặng lại sách cho các thư viện, để giảm xuống còn 1.000 cuốn. Đây cũng là điều dễ hiểu, vì theo các vị tướng khác cho biết thì mỗi lần Mattis chuyển sang một vị trí mới thì ông lại mang cả kho sách khổng lồ này theo bên mình.
Tướng Mattis phát biểu tại Học viện Hải quân Mỹ - Ảnh: BI
Một người bạn của Mattis là tướng Michael Ennis kể lại rằng có lần ông tới nhà Mattis chơi và muốn tìm một ít ngũ cốc để ăn sáng. Khi mở tủ bếp ra, Ennis đã sửng sốt khi thấy trong tủ chất đầy sách, và khi ông thử giở sách ra thì thấy cuốn nào cũng đầy các ghi chú bên lề và những đoạn văn được đánh dấu lại cẩn thận.

Mattis không bao giờ quên nhắc nhở cấp dưới về tầm quan trọng của việc đọc sách. Ông có hẳn một danh sách các cuốn sách và bài luận mà cấp dưới nên đọc, được phân chia rõ ràng theo từng cấp bậc từ binh nhì cho tới hàng đại tá. Bất kể một người lính được điều động tới Iraq, Afghanistan hay châu Phi, ông cũng đều có thể giới thiệu cho họ một cuốn sách phải đọc để tìm hiểu về văn hóa và lịch sử của nơi họ đóng quân.

Vì vậy, chẳng có gì ngạc nhiên khi tướng Mattis đã được Đại học Stanford chọn vào một nhóm những chuyên gia (fellow) hàng đầu về lịch sử quân sự của trường đại học này.

2. “Dùng não trước khi dùng súng”

Một câu nói khác của Mattis cũng mang ý này: “15cm quan trọng nhất trên chiến trường chính là nằm giữa 2 lỗ tai của bạn”. Dù trong môi trường doanh nghiệp hay quân đội, con người luôn có rủi ro rơi vào lối tư duy kiểu "khi trong tay ta có búa, thì mọi thứ khác đều là đinh", nói cách khác là bị đi vào lối mòn về mặt giải pháp. Đây là nguyên nhân phát sinh ra những màn biểu diễn hỏa lực tốn kém đạn dược, hay những chiến dịch marketing đầy hào nhoáng nhưng lại chẳng mang tới kết quả gì, vì đơn giản là nhà lãnh đạo cũng như các cấp dưới chẳng buồn suy nghĩ xem mình làm điều đó để làm gì.

Mattis hiểu rằng những thanh niên trẻ tuổi với rất nhiều súng ống đạn dược trong tay nhưng lại thiếu kinh nghiệm xã hội thì có thể gây ra tác hại như thế nào. Là một vị tướng cực kỳ quyết liệt khi xông pha tuyến đầu, nhưng khi trở thành lãnh đạo lực lượng đồn trú tại Iraq thì Mattis luôn bắt các binh sĩ của mình phải học cách gần gũi và tôn trọng văn hóa của người dân địa phương. Ông căn dặn: “Khi bạn thể hiện sự giận dữ hay khinh bỉ với dân địa phương, đó là chiến thắng của al-Qaeda và các lực lượng phiến quân”, và “Điều đầu tiên phải làm là không được gây hại”.
Tướng Mattis cùng các sĩ quan của nước đồng minh Jordan. Ảnh: imgix.net
Trước khi sư đoàn thủy quân lục chiến số 1 do Mattis chỉ huy được điều động tới Iraq vào năm 2003, ông đã cho mời các chuyên gia văn hóa Ả Rập tới huấn luyện cho binh sĩ của mình. Họ được dạy phải biết bỏ kính mát ra khi nói chuyện với dân địa phương, và nếu có phải lục soát nhà thì hãy thể hiện sự tôn trọng bằng cách xin phép chủ nhà. Ban đầu Mattis yêu cầu binh sĩ phải cạo râu đầy đủ để bảo đảm hình ảnh kỷ luật, nhưng sau vài tháng đồn trú ở Iraq thì họ được ông yêu cầu nên để râu mép để giống với người Iraq hơn.

Ông cũng kể cho họ nghe những câu chuyện về một nhóm binh sĩ đã dám ngả mũ khi có một đoàn xe tang đi ngang qua, dù biết rằng họ đang chấp nhận rủi ro tính mạng khi làm việc đó, hay một nhóm binh sĩ khác giải tán đám đông giận dữ bằng những bình nước mát thay vì giơ súng lên.

3. Xắn tay vào làm nếu muốn chinh phục niềm tin của cấp dưới

Để thuyết phục các binh sĩ chấp nhận gần gũi với dân địa phương trong khi luôn có rủi ro là họ sẽ bị lực lượng phiến quân phục kích không phải là điều đơn giản. Theo Mattis, để làm được điều này nhà lãnh đạo phải biết giành được sự trung thành và lòng ngưỡng mộ từ cấp dưới. Chỉ khi đó, cấp dưới mới có đủ sự tin tưởng và cảm giác kết nối với chỉ huy để sẵn sàng tuân lệnh.

Để làm được điều này, Mattis không ngần ngại tự đặt bản thân vào vòng nguy hiểm bên cạnh các binh sĩ của mình. Khi lực lượng tự vệ Iraq tại thành phố Fallujah được thành lập, Mattis đã “kiểm tra” khả năng giữ an ninh của họ bằng cách cho một đoàn xe của lực lượng thủy quân lục chiến chạy xuyên qua thành phố, và đích thân ông cũng ngồi trong đoàn xe đó.
Tướng Mattis đứng ngoài mặt trận cùng binh sĩ. Ảnh: LA Times
Trong một trường hợp khác, khi đang trên đường trở về sở chỉ huy và đi ngang qua một đại đội vừa bị phục kích, Mattis đã cho gửi các binh sĩ bị thương về, và đích thân chỉ huy những người còn lại tiếp tục chiến đấu. Dù rủi ro phục kích luôn thường trực, Mattis thường xuyên nhắc nhở các tài xế của mình “hãy lái xe chậm lại” để cho dân địa phương thấy người Mỹ không sợ sệt họ, cũng như thể hiện sự tôn trọng.

Và mỗi khi có một binh sĩ dưới quyền của ông không may thiệt mạng, Mattis luôn gửi một lá thư do chính tay ông viết tới bố mẹ của người đó, theo lời kể của tướng Ennis.

4. “Đừng lẩn tránh những sự thật phũ phàng”

Làm nhà lãnh đạo đồng nghĩa với việc phải trung thực với cấp dưới và giúp họ ý thức về các rủi ro sắp tới. Dù trong môi trường quân ngũ hay doanh nghiệp, đây là điều làm nên điểm khác biệt giữa thành công và thất bại. Mattis nói: “Bạn không thể cho phép bất kỳ người nào dưới quyền bạn lẩn tránh những sự thật phũ phàng. Nếu họ cứ sống trong một thế giới mộng mơ, mọi thứ rồi sẽ trở nên tồi tệ mà thôi”.
Tướng Mattis đi thăm thương binh trong quân y viện. Ảnh: wearethemighty.com
Từ đó, Mattis khuyên: “Hãy trở thành người thợ săn chứ không phải con mồi. Đừng bao giờ để cho đơn vị của bạn lâm trận trong tình trạng mất cảnh giác”. Một cách diễn đạt khác mà ông cũng dùng là: “Thế giới có những thợ săn và có những con mồi. Bằng sự kỷ luật, khôn ngoan và cảnh giác, chính bạn sẽ quyết định xem mình là thợ săn hay là con mồi”.

Việc chuẩn bị trước không bao giờ là thừa. Mattis khuyên: “Luôn luôn lịch sự, luôn luôn chuyên nghiệp, nhưng hãy luôn có kế hoạch đánh bại tất cả những người bạn gặp”.

5. “Hãy sống thoải mái với sự bất định”
Mattis khuyên: “Một vài người cảm thấy phẫn nộ khi có chuyện gì đó mà họ nghĩ chắc chắn sẽ xảy ra lại không trở thành sự thật. Trong trường hợp đó, cảm nhận về rủi ro của bạn là quá cao, và bạn dễ sinh ra né tránh rủi ro. Bạn cần phải học cách sống thoải mái với sự bất định”. Ông cũng từng nói “Tôi chưa bao giờ mất ngủ vì nỗi lo thất bại. Tôi thậm chí còn không biết cách đánh vần từ đó”.

Là người tin rằng chiến trường là nơi luôn diễn ra sự thay đổi từng phút một và không có chỗ cho những dự đoán chắc chắn 100%, Mattis thường xuyên phản đối việc sử dụng PowerPoint để thuyết trình kế hoạch, vì ông cho rằng nó làm cho công tác lãnh đạo có vẻ dễ dàng hơn sự thật. Khi đã ý thức được rằng chiến trường là nơi có nhiều sự bất định và đối thủ luôn luôn có khả năng thích ứng cao độ, bạn sẽ có sự chuẩn bị tốt hơn rất nhiều so với việc cứ cho rằng mọi thứ sẽ tuân theo một vài quy luật sách vở nào đó.

6. “Hãy nuôi dưỡng những kẻ nổi loạn”


Dù là trong môi trường quân ngũ hay doanh nghiệp, những ý tưởng sáng tạo và đi ra ngoài khuôn khổ không phải bao giờ cũng được chấp nhận ngay, và đôi lúc có thể bị triệt tiêu bởi các lực cản bảo thủ. Để mang lại sự đổi mới, nhà lãnh đạo không thể chỉ biết ngồi đợi các ý tưởng mới xuất hiện, mà còn phải biết tạo điều kiện cho những cá nhân sáng tạo.

Phát biểu với các sĩ quan vừa được thăng hàm chuẩn tướng, Mattis nói: “Hãy đón nhận những kẻ nổi loạn (maverick) dưới quyền của bạn, những người mặc đồng phục nhàu nhĩ và nhìn như một đống bùn, nhưng lại có các ý tưởng nổi loạn làm cho các quan chức phải nổi giận. Một trong những công việc chính của bạn là hãy chấp nhận rủi ro và nuôi dưỡng những người như vậy, vì nếu không thì sẽ tới lượt kẻ thù mang những ý tưởng đột phá của bên họ đến với bạn”.
Tướng Mattis trao đổi với các sĩ quan. Ảnh: BI
Chính bản thân Mattis cũng là người đã mang “ý tưởng đột phá” tới quân đội của Saddam Hussein trong cuộc chiến Iraq năm 2003. Trong khi quân Iraq cho rằng người Mỹ sẽ lặp lại chiến lược cũ của cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991 là tấn công dọc theo dòng sông Tigris, Mattis đã làm điều mà họ không thể ngờ tới. Xông thẳng vào tuyến đường quốc lộ nằm giữa 2 con sông Tigris và Euphrates, nơi được cho là đất quá mềm để xe bọc thép di chuyển, đoàn quân hàng ngàn xe của Mattis đã di chuyển một mạch 110km trong vòng 2 ngày, qua mặt 6 sư đoàn Iraq. Trong vòng 17 ngày của chiến dịch kỳ đó, sư đoàn thủy quân lục chiến số 1 do Mattis chỉ huy đã tiến được 808km, một kỷ lục vô tiền khoáng hậu trong lịch sử binh chủng này.

7. Đừng ngủ quên trên chiến thắng
Ít có điều gì nguy hiểm với nhà lãnh đạo hơn là sự chủ quan và tự mãn từ chính bản thân mình. Những chiến thắng dễ dàng ban đầu có thể làm bạn đánh mất sự cảnh giác và chuẩn bị, từ đó đặt cả tổ chức của bạn vào vòng rủi ro, và đó cũng thường chính là lúc đối thủ “trở lại lợi hại hơn xưa”.

Ý thức được điều này, Mattis khuyên: “Chẳng có cuộc chiến nào là thực sự chấm dứt cho tới khi chính kẻ thù phải nói rằng nó đã chấm dứt. Chúng ta có thể nghĩ rằng cuộc chiến đã chấm dứt, chúng ta có thể hùng hồn tuyên bố nó đã chấm dứt, nhưng thực ra kẻ thù cũng có quyền quyết định xem nó đã chấm dứt thật hay chưa”.